Ads Banner Header

Ho là triệu chứng của những chứng bệnh gì ?

Thảo luận trong 'Thực Phẩm - Dược Phẩm - Y Tế'

  1. nhungle233

    nhungle233 Member

    Bài viết:
    395
    Đã được thích:
    0
    Ho là một phản ứng của cơ thể, nhằm tống một vài chất bài tiết hoặc dị vật ra ngoài. Ho nhiều làm cho bệnh nhân mất ngủ, mất sự yên tĩnh của người sống cùng. Ho kéo dài làm cho người bị bệnh lo lắng, nghĩ rằng mình mắc một bệnh gì khó chữa trị, nên thường tới chuyên gia để khám hội chứng.
    Động tác ho có khả năng do phản xạ hoặc theo ý muốn. lúc ho, một số cơ hô hấp phải huy động tối đa, khiến cho áp lực trong lồng ngực và đường hô hấp ở mức nâng cao nhất. Độ tăng áp lực giữa khí đạo và ko khí ngoài trời với việc đóng mở thanh môn, khiến tốc độ không khí được tống ra ngoài nhanh sắp bằng tốc độ của âm thanh, đủ lực để đưa các dị vật ra ngoài. Ho có thể có đờm, ho khan, ho từng cơn, hoặc ho húng hắng, ho ông ổng.
    Tìm hiểu các bệnh cách chữa bệnh viêm xoang tại website : khamtaimuihong.org
    [​IMG]
    1.Nguyên nhân ho
    Ho sẽ do một vài bệnh của đường hít thở, nhưng cũng có khi ho vì hội chứng ở ngoài đường hít thở, đấy là vài bệnh lý sau:
    Ho vì viêm họng cấp: Ho có đờm hoặc ho khan, sốt cao, có tự dưng sốt. Nuốt vướng, có cảm giác rát họng. Họng đỏ, có hạt hoặc có mủ. Amidan có thể sưng
    Viêm thanh quản: Ho khan. nói khàn hoặc mất tiếng. hội chứng bạch hầu thanh quản tiếng ho ông ổng. Thể trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Có màng trắng ở họng, làm nghẹt thở, nhiều những lúc bắt buộc mở khí quản.
    Viêm khí quản, phế quản cấp: Sốt cao, quá trình đầu ho khan, giai đoạn sau có đờm. Đờm đặc hoặc loãng, màu trắng hoặc vàng. điều trị sớm dễ mau khỏi.
    Viêm phế quản mạn: phổ biến ở người hút thuốc lá (75%). Ho rất nhiều đờm, mỗi năm ho khạc 3 tháng, trong vòng hai năm liền. bệnh hay tái hồi do vài lần bội nhiễm hoặc tiếp xúc với các tác nhân có ảnh hưởng viêm như ko khí lạnh, độ ẩm cao, hít phải hơi độc.
    Tìm hiểu các bệnh viêm họng hạt mãn tính tại website : khamtaimuihong.org
    Giãn phế quản: Ho nhiều về buổi sáng, có toàn bộ đờm. Để đờm vào cốc, thấy lắng thành 3 lớp: dưới là mủ, giữa là chất nhày, lớp trên cùng là bọt lẫn dịch. Giãn phế quản thậm chí ho ra máu. Hay tái phát do lần bội nhiễm.
    Hen phế quản: rất hay gặp ở lứa tuổi bé và trung niên. người bị mắc bệnh không sốt. nghẹt thở từng cơn, cơn hay gặp về ban đêm, khi khó thở thấy tiếng rít cò cử. Sau cơn người bệnh ho và khạc ra nhiều đờm trắng, loãng. Hay tái phát nhiều lần vì bội nhiễm, khi đó thì đờm có màu vàng.
    Ho gà: Gặp ở trẻ nhỏ, có sốt. Ho từng cơn, cuối cơn ho có tiếng rít như tiếng rít của gà gáy. Ho nhiều có khả năng vỡ phế nang, có ảnh hưởng tràn khí màng phổi.
    Ho vì dị vật đường hô hấp: Ho sặc sụa, mặt tím tái, có tiếng hít thở rít, người ngột ngạt như sắp chết. trong khi dị vật xuống sâu và ổn định thì đỡ ho, đỡ khó thở. Dị vật làm viêm nhiễm thì ho có đờm hoặc có máu, ho dai dẳng, sốt cao, nóng ngực.
    Viêm phổi: Sốt cao, rét run, nhức ngực, ho có đờm quánh, dính, màu rỉ sắt. Bạch cầu trong máu tăng cao. Chụp Xquang phổi có hình ảnh viêm phổi.
    Lao phổi: Sốt hâm hấp về chiều, người gầy, sút cân, chán ăn. Ho dai dẳng, ra đờm đặc, thậm chí lẫn máu hoặc ho ra máu tươi. Tìm thấy vi rút lao trong đờm.
    Tìm hiểu các bệnh trị viêm mũi dị ứng tại website : khamtaimuihong.org
    Áp-xe phổi: Sốt cao, đau ngực. Ho khan hoặc có đờm. trong lúc ổ áp-xe vỡ thông vào phế quản thì ho ra nhiều đờm như mủ, mùi tanh hoặc vô cùng thối.
    bệnh bụi phổi: Gặp ở người tiếp xúc với bụi ở công trường, hầm mỏ, làm đường, công nhân nhà máy dệt, may, xi-măng… người bị mắc bệnh ho kéo dài, ra đờm màu đen, đục. một số đợt bội nhiễm thì ho tăng hơn. bệnh kéo dài, tác động tới toàn thân.
    chứng bệnh màng phổi: Viêm màng phổi có dịch, ho vì màng phổi bị kích thích, ho trong lúc chuyển đổi tư thế.
    Ung thư phế quản: Gặp ở người cao tuổi, người hút thuốc lá. người bị mắc bệnh gầy sút nhanh, ăn uống kém, nóng ngực, ho ra máu. U chèn ép nhiều làm khó thở, xẹp phổi. phải cần chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để xác định.
    Ho vì những nguyên nhân tim mạch: Tăng áp lực động mạch phổi, phổi mắc ứ huyết, gặp trong một số chứng bệnh hẹp van hai lá, tâm phế mạn, suy tim, viêm màng ngoài tim khô hoặc có dịch.
    Áp-xe gan, dưới cơ hoành: có ảnh hưởng phản ứng phổi – màng phổi, kích thích màng phổi làm ho.
    Ngoài ra, những lúc phụ nữ mang thai, u xơ tử cung, bệnh trào ngược dạ dày, người rối loạn tinh thần… hoặc bị mắc các hội chứng toàn thân kèm viêm đường hít thở cũng có ho, ví dụ hội chứng cúm, sởi, bạch cầu, thương hàn, rubeol, nhiệt thán, những chứng bệnh thuộc phạm vi tai – mũi – họng. Ho còn gặp trong trường hợp nhiễm ko khí nhức hoặc lạnh, hít buộc phải vài hơi độc, hóa chất, thuốc lá gây kích thích niêm mạc đường hô hấp.
    2.Điều chữa trị ho
    Việc quan trọng là buộc phải trị liệu yếu tố, nhưng chữa dấu hiệu ho và khiến cho đờm thoát ra ngoài lại cực kỳ thiết yếu. Thuốc ho đã có nhiều loại: thuốc có công dụng trên trung ương (trung tâm hô hấp như: dextromethorphan, mocphin, codein) và vài thuốc làm tan đờm, lỏng đờm (tecpin). bởi vậy các thuốc này cũng có nhiều tác dụng phụ hoặc tai biến.
    các thuốc trung ương làm ức chế trung tâm hô hấp, không buộc phải phục vụ người lớn tuổi, trẻ nhỏ, người có viêm phế quản mạn tính, đặc thù là bệnh lý phổi tắc nghẽn mạn tính người suy thở. Thuốc codein không phục vụ người táo bón và thận trọng cho người bị mắc hen, v.v… Tùy theo từng trường hợp ho cụ thể mà vài chuyên gia dễ có quyết định.
    Tóm lại, thuốc ho cần sử dụng với liều lượng tối thiểu, phải sử dụng đúng liều cho trẻ em, người lớn tuổi, phải phối hợp với khám và điều trị bệnh chính. quan tâm ko được tự ý dùng một giải pháp tùy tiện, mà cần có sự chỉ định của bác sĩ.
    :
    Đang tải...

Chia sẻ trang này